Khảo sát hiệu quả xử lý nước sông Sa Đéc - Đồng Tháp bằng PAC kết hợp than hoạt tính

Các tác giả

  • Nguyễn Thị Thanh Tuyền
    Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, VN
  • Trần Thái Hà
    Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, VN
  • Hồ Trâm Quốc Triệu
    Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, VN
  • Đặng Thị Đoan Dung
    Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, VN
  • Văn Từ Nhật Huy
    Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, VN

DOI:

10.46223/HCMCOUJS.tech.vi.17.2.2040.2022

Từ khóa:

hiệu quả xử lý; PAC; Polymer; than hoạt tính

Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh đánh giá khả năng xử lý nước mặt thuộc tuyến sông Tiền tại Thành phố Sa Đéc - Đồng Tháp bằng 02 phương pháp xử lý là dùng PAC + Polymer và dùng PAC + Polymer + Than hoạt tính. Hiệu quả xử lý nước được đánh giá thông qua bốn chỉ tiêu chất lượng nước: Tổng rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxi hóa học (COD), amoni (NH4+), độ đục. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả của việc sử dụng PAC và Polymer xử lý độ đục, COD, TSS. Hiệu quả xử lý COD đạt đến 54.54%, hàm lượng amoni giảm đến 0.15mg/L, độ đục đã giảm còn 0.2NTU. Việc cho thêm than hoạt tính vào phản ứng càng làm tăng thêm hiệu quả xử lý COD, với hiệu quả lên đến 76.79%. Trong nghiên cứu này, với chỉ tiêu độ đục và TSS thì việc sử dụng keo tụ tạo bông kèm than luôn đạt được hiệu quả tốt, nước sau xử lý đạt QCVN 01 - 1:2018/BYT (Bộ Y tế, 2018). Tuy nhiên với chỉ tiêu COD và amoni thì vẫn chưa đảm bảo nước sau xử lý đạt giá trị cho phép quy định trong QCVN 01 - 1:2018/BYT (Bộ Y tế, 2018). Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng than hoạt tính giúp tăng cường hiệu quả xử lý, và có tiềm năng tiến tới giải pháp sử dụng hóa chất PAC ít hơn mà vẫn cho ra được hiệu quả xử lý tương đương.

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tài liệu tham khảo

Chea, R., Grenouillet, G., & Lek, S. (2016). Evidence of water quality degradation in lower mekong basin revealed by self-organizing map. Plos One, 11(1), e0145527. doi:10.1371/journal.pone.0145527

Do, C. M., & Nguyen, H. T. L. (2015). Cục quản lý môi trường y tế [Department of Health Environmental Management]. Tạp chí môi trường, 8(2015).

Doan, H. T. (2013). Đánh giá hiện trạng cấp nước nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải pháp phát triển [Mekong delta rural water supply situations and development measures]. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường, 43, 03-10.

Holt, P. K., Barton, G. W., Wark, M., & Mitchell, C. A. (2002). A quantitative comparison between chemical dosing and electrocoagulation. Colloids and Surfaces A: Physicochemical Engineering Aspects, 211(2/3), 233-248.

Nhà máy nước KCN C, Tp.Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp (n.d.). Kết quả thử nghiệm của mẫu nước mặt Nhà máy nước KCN C, Tp.Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp [Test results of surface water samples of Industrial Park C Water Plant, Sa Dec City - Dong Thap Province]. Dong Thap, Vietnam: Nhà máy nước KCN C.

Tải xuống

Ngày nộp: 20-08-2021
Ngày duyệt đăng: 10-11-2021
Ngày xuất bản: 16-09-2022

Thống kê truy cập

Trang tóm tắt: 366
PDF: 413

Cách trích dẫn

Tuyền, N. T. T., Hà, T. T., Triệu, H. T. Q., Dung, Đặng T. Đoan, & Huy, V. T. N. (2022). Khảo sát hiệu quả xử lý nước sông Sa Đéc - Đồng Tháp bằng PAC kết hợp than hoạt tính. TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ, 17(2), 89–103. https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.tech.vi.17.2.2040.2022