Bước đầu đánh giá tác động của tế bào gốc trung mô từ dây rốn trên mô hình chuột tổn thương gan do tắc mật

Các tác giả

  • Nguyễn Minh Thư
    Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
  • Lê Văn Trình
    Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đặng Minh Thành
    Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
  • Trương Hải Nhung
    Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

DOI:

https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.tech.vi.16.1.1796.2021

Từ khóa:

bệnh hẹp đường mật; chuột tắc mật; điều trị tắc mật; bệnh lý gan; liệu pháp tế bào gốc

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của tế bào gốc trung mô trên mô hình chuột tổn thương gan do tắc ống dẫn mật. Phương pháp: Chuột Swiss được tiến hành phẫu thuật thắt ống dẫn mật (BDL) để gây bệnh xơ gan. Sau BDL 07 ngày, chuột được tiêm tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn (umbilical cord blood-derived - UCB-MSC) với liều 5 x 105tb/con. Hiệu quả điều trị được đánh giá thông qua tỉ lệ sống chết, các chỉ số sinh hóa (AST, ALT, Albumin) và thay đổi cấu trúc mô học (nhuộm H&E), sự tích lũy collagen trong mô gan (nhuộm Sirius red), sự hoạt hóa tế bào hình sao (nhuộm hóa mô miễn dịch với marker α-SMA). Kết quả: Sau 12 ngày điều trị, so với nhóm đối chứng - PBS, chuột tiêm MSC có tỉ lệ sống cao (100%), giảm tổn thương gan (chỉ số sinh hóa men gan Alb, AST và ALT trung bình lần lượt là 2,016 Dg/L, 432.9 UI/L và 417.7 UI/L), giảm diện tích xơ gan thông qua diện tích hoại tử trung bình là 7.529%, sự tích lũy collagen trong gan trung bình là 1.968% và tỷ lệ dương tính của protein α-SMA là 1.42725%. Kết luận: Bước đầu đánh giá được tính an toàn và hiệu quả điều trị chuột tổn thương gan do tắc ống dẫn mật bằng tế bào gốc trung mô (MSC).

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tài liệu tham khảo

Ale-Ebrahim, M., Eidi, A., Mortazavi, P., Tavangar, S. M. T., & Minai, D. (2015). Hepatoprotective and antifibrotic effects of sodium molybdate in a rat model of bile duct ligation. Journal of Trace Elements in Medicine and Biology, 29, 242-248.

Angioni, R., Calì, B., Vigneswara, V., Crescenzi, M., Merino, A., Sánchez-Rodríguez, R., . . . Viola, A. (2020). Administration of human MSC-Derived extracellular vesicles for the treatment of primary Sclerosing Cholangitis: Preclinical data in MDR2 knockout mice. Molecular Sciences, 21 (22), Article 8874.

Bates, M. D., Bucuvalas, J. C., Alonso, M. H., & Ryckman, F. C. (1998). Biliary atresia: Pathogenesis and treatment. Seminars in Liver Disease, 18 (3), 281-293. doi:10.1055/s-2007-1007164

Carvalho, A. B., Quintanilha, L. F., Dias, J. V., Paredes, B. D., Mannheimer, E. G., Carvalho, F. G., . . . Resende, C. M. C. (2008). Bone marrow multipotent mesenchymal stromal cells do not reduce fibrosis or improve function in a rat model of severe chronic liver injury. Stem Cells, 26 (5), 1307-1314.

Castillo, M., Liu, K., Bonilla, L., & Rameshwar, P. (2007). The immune properties of mesenchymal stem cells. International Journal of Biomedical Science, 3 (2), 76-80.

Tải xuống

Ngày nộp: 09-04-2021
Ngày duyệt đăng: 25-05-2021
Ngày xuất bản: 07-07-2021

Thống kê truy cập

Trang tóm tắt: 678
PDF: 338

Cách trích dẫn

Thư, N. M., Trình, L. V., Thành, Đặng M., & Nhung, T. H. (2021). Bước đầu đánh giá tác động của tế bào gốc trung mô từ dây rốn trên mô hình chuột tổn thương gan do tắc mật. TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ, 16(1), 62–78. https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.tech.vi.16.1.1796.2021