Thành tựu và giới hạn của việc áp dụng giống lúa cao sản của Đồng bằng Sông Cửu Long

Các tác giả

  • Phạm Văn Dư
    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn., VN
  • Lê Thanh Tùng
    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn., VN

Tóm tắt

Việc nhanh chóng áp dụng giống lúa mới từ cuộc cách mạng Xanh (CMX) đã mang lại cho Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng nhiều thành tựu nổi bật: lai tạo được bộ giống lúa ngắn ngày, có năng suất và chất lượng cao như Jasmine 85, OM CS 2000, VND 95-20, OM 4900, OM 4218, OM 2517, ST5... giúp Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới. Ngoài ra, Việt Nam tiến rất xa trong canh tác thâm canh so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên những hệ quả mà cuộc cách mạng Xanh mang lại cũng không nhỏ. Tính đa dạng sinh học của giống lúa bị thu hẹp; các vùng sinh thái tự nhiên bị mất dần; di truyền học tính kháng hay sự tương tác giữa ký sinh và ký chủ có sự thay đổi rất lớn; chất lượng đất, nước và quần thể sinh vật trong tự nhiên bị ảnh hưởng tiêu cực. Vì vậy, để đảm bảo cho năng suất sản xuất lúa ổn định và bền vững cần phải thực hiện nhiều chương trình, giải pháp, nhiều chính sách hỗ trợ và đạt được sự đồng bộ trong sản xuất, tiêu thụ và bảo vệ sức khỏe người dân, bảo vệ môi trường. Abstract The rapid application of new rice varieties from the Green Revolution (CMX) has brought outstanding achievements to Vietnam in general and the Cuu Long in particular: the rice varieties bred to be shorter time crops, high productivity and quality as Jasmine 85, OM CS 2000, NVD 95-20, OM 4900, OM 4218, OM 2517, ST5… making Vietnam become the second biggest rice exporter in the world. Furthermore, Vietnam has been making a tremendous progess in intensive farming compared to other countries in the region. However, the Green Revolution (CMX)’s disadvantage is positively visible. The biodiversity of rice varieties has been narrowed down; the natural ecological regions would have eventually vanished;there would be big changes for genetic resistance or the interaction between parasites and hosts, quality of soil, water and populations of organisms in nature have negative effects. Therefore, to ensure yieldstability of rice productivity and sustainability, we have to implement programs and solutions, many supporting policies to achieve synchronization in production, in consumption, in the citizen’s health protection, and in environment protection as well.

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tài liệu tham khảo

Cục Trồng trọt, 2007. Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam, trang 8.

Cục Trồng trọt, 2005. Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam, trang 20.

Hiroyuki Konuma, 2011. Global and Regional Food Security Situation and Outlook in Asia and The Pacif-ic. Asia-Europe Meeting (ASEM), High-Level Conference on Food Security, Chang Mai, Thai Lan, 9-11 May 2011

Nguyễn Quốc Lý, 2007. Báo cáo Điều tra đánh giá cơ cấu, hệ thống sản xuất, chất lượng và công tác quản lý giống lúa ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Pham Van Dư, 2007. Breeding Activities and Genetic Resources in VietNam on Revitalizing the Global exchange and Utilization of Rice Breeding Resources, INGER-IRRI, 8-11 May, 2007 Bangkok, Thai Lan

Tải xuống

Ngày nộp: 20-10-2020
Ngày duyệt đăng: 20-10-2020
Ngày xuất bản: 23-04-2011

Thống kê truy cập

Trang tóm tắt: 444
PDF: 295

Cách trích dẫn

Dư, P. V., & Tùng, L. T. (2011). Thành tựu và giới hạn của việc áp dụng giống lúa cao sản của Đồng bằng Sông Cửu Long. TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - KHOA HỌC XÃ HỘI, 6(2), 3–14. Truy vấn từ https://journalofscience.ou.edu.vn/index.php/soci-vi/article/view/1202